TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hệ thống pháp luật

Trên thực tế, hệ thống luật pháp hiện hành về hoạt động ngân hàng đã được thiết lập kể từ ngày 12/12/1997 khi hai bộ luật cơ bản là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức tín dụng, được ban hành thay thế cho các Pháp lệnh cũ ban hành vào ngày 23/5/1990. Gần đây nhất, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được sửa đổi vào ngày 17/6/2003 và Luật các Tổ chức tín dụng đã được sửa đổi vào ngày 15/6/2004.

Hệ thống Ngân hàng

Hệ thống ngân hàng trong nước được chia thành 2 cấp. Cấp cao nhất là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN), chịu trách nhiệm kiểm soát các chính sách tiền tệ và giám sát, điều chỉnh hệ thống ngân hàng. Cấp độ thứ hai ba gồm các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân, và các công ty bảo hiểm. Nội dung phần này chủ yếu tập trung vào các ngân hàng thương mại, gồm có các ngân hàng quốc doanh, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và VPĐD ngân hàng nước ngoài. Trong tất cả các ngân hàng trên đây, những ngân hàng nước ngoài muốn thiết lập đại diện tại Việt Nam có thể lựa chọn một trong ba hình thức, đó là ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài. Toàn bộ hồ sơ đề nghị và các thủ tục đăng ký cho các loại hình trên được thực hiện theo quy định của NHNNVN. Tuỳ thuộc vào giấy phép hoạt động do NHNNVN cấp thì ngân hàng liên doanh có thể cung cấp nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam. Đối tác trong nước của một ngân hàng liên doanh phải là một ngân hàng thương mại đang tồn tại. Mức vốn tối thiểu bắt buộc đối với một ngân hàng liên doanh là 10 triệu USD.

Cũng tương tự với ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền cung cấp các dịch vụ ngân hàng được phép tại thị trường Việt Nam. Mức vốn tối thiểu bắt buộc đối với một chi nhánh là 15 triệu USD.

Văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài không được phép kinh doanh các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam. Về bản chất, các văn phòng đại diện là đại diện pháp lý của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, do đó chỉ có thể thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường và hỗ trợ các dịch vụ của ngân hàng mẹ.

Nói chung, ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu các mức thuế tương tự như đối với các doanh nghiệp khác trong nước.


Hoạt động hối đoái và chuyển tiền

Hoạt động quản lý Nhà nước đối với vấn đề này được phân chia giữa một số cơ quan Nhà nước. Trong các cơ quan Nhà nước, Chính phủ có chức năng ban hành chính sách tổng thể về quản lý ngoại hối trên cơ sở những đề xuất của NHNNVN. NHNNVN chịu trách nhiệm lập kế hoạch thi hành chính sách tổng thể đó, và có trách nhiệm quản lý và giám sát hàng ngày việc thực hiện các kế hoạch của mình.

(i) Tài khoản ngân hàng

Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể mở tài khoản ngân hàng tại những ngân hàng được cấp phép và hoạt động tại Việt Nam. Tất cả các khoản thu và chi, bao gồm cả những khoản góp vốn, về nguyên tắc, phải được thực hiện qua các tài khoản ngân hàng này. Tuỳ theo mục đích sử dụng, tài khoản ngân hàng mà một dự án có vốn đầu tư nước ngoài có thể mở bao gồm những tài khoản sau: (a) tài khoản ngân hàng bằng đồng nội tệ/ngoại tệ thông thường, (b) tài khoản tiền gửi ngân hàng, và (c) tài khoản ngân hàng bằng ngoại tệ mở ở nước ngoài. Trên thực tế, không phải tất cả các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đều được phép mở tài khoản bằng ngoại tệ ở nước ngoài, vì lý do để được phép mở loại tài khoản này, các dự án đó phải đáp ứng được một số tiêu chí và phải được sự chấp thuận của NHNNVN.


(ii) Cân đối hoạt động ngoại hối

Về nguyên tắc, mỗi một dự án có vốn đầu tư nước ngoài phải tự cân đối nhu cầu ngoại tệ của mình trên cơ sở tất cả các khoản thu nhập bằng ngoại tệ phải ít nhất bù đắp được cho tất cả các khoản chi bằng ngoại tệ của mình. Tuy nhiên, để khuyến khích các hoạt động đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu thiết yếu, và các lĩnh vực quan trọng khác, NHNNVN đã bảo đảm sẽ cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho các dự án trên. Cam kết này sẽ được áp dụng cho toàn bộ thời gian của dự án.

(iii) Các giao dịch tiền mặt

Về nguyên tắc, tất cả các giao dịch thu và chi tiền mặt ở Việt Nam phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt được luật pháp hiện hành cho phép và tuỳ theo sự chấp thuận của NHNNVN, bao gồm các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, quầy giao dịch ngoại hối… Nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hợp đồng liên doanh được phép rút tiền mặt bằng ngoại tệ trên tài khoản ngân hàng để thanh toán lương và các khoản phụ cấp khác cho những nhân viên làm việc ở nước ngoài, hoặc chi trả công tác phí cho những nhân viên Việt Nam trong những chuyến công tác ở nước ngoài.

Để duy trì một cán cân quốc tế, Chính phủ tích cực tìm kiếm để chuyển các luồng ngoại hối vào, đồng thời giám sát chặt chẽ luồng tiền chuyển đi. Không có giới hạn đối với những giao dịch chuyển tiền về, tuy nhiên số tiền chuyển về phải được chuyển đổi thành đồng Việt nam hoặc phải gửi vào một tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng. Đối với những giao dịch chuyển tiền đi có thể được chấp nhận trong một số trường hợp đặc biệt dưới đây:

(iv) Tỷ giá hối đoái

Tất cả các giao dịch chuyển đổi được thực hiện dựa trên tỷ giá hối đoái của ngân hàng được phép điều chỉnh giao dịch chuyển đổi trên cơ sở tham chiếu đến tỷ giá do NHNNVN công bố vào thời điểm thực hiện giao dịch.

(v) Thị trường tài chính và vốn

Những nỗ lực của Chính phủ và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã được đáp lại, mở đầu bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2000, và một trung tâm giao dịch quy mô nhỏ hơn ở Hà Nội vào năm 2004.

Hai loại hàng hoá luôn sẵn sàng để bán trên thị trường chứng khoán đó là cổ phiếu niêm yết của 32 doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá, và trái phiếu do Chính phủ và các ngân hàng phát hành.

Tất cả các cá nhân và tổ chức nước ngoài bắt buộc phải đăng ký với TTGDCK nếu muốn mua chứng khoán trên thị trường Chứng khoán Việt Nam. Đối với những cổ phiếu đã niêm yết, các nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ tối đa 49% trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một đơn vị phát hành thay vì 30% như trước đây, bất kể đó là một tổ chức hay một cá nhân. Đối với trái phiếu niêm yết, các tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể nắm giữ tối đa 40% tổng số trái phiếu đang lưu hành của một đơn vị phát hành, trong đó, mỗi cá nhân được nắm giữ tối đa 5% và mỗi tổ chức được nắm giữ tối đa 10%.

LUẬT THUẾ

Các quy định luật pháp về thuế

Cơ sở của hệ thống thuế là các luật pháp về thuế, trong đó có Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật sửa đổi của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật sửa đổi của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, đều được thông qua ngày 17/6/2003 thay thế cho các luật cũ ngày 22/5/1997 và 6/1990.

Ngoài ra còn có hàng trăm nghị định, thông thư và các quy định khác được Chính phủ, các bộ và cơ quan khác ban hành trong từng thời kỳ, để hướng dẫn thi hành các luật trên đây.

Các loại thuế

Theo quy định hiện hành của luật pháp về thuế, các nhà đầu tư nước ngoài tối thiểu cần biết đến các loại thuế sau khi thực hiện kinh doanh ở Việt Nam:

Chi tiết về từng loại thuế trên được trình bày trong phần dưới đây.

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Mức thuế suất chuẩn hiện nay là 28%, thấp hơn so với mức trước đây là 32% nhờ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành năm 2003 (có hiệu lực kể từ ngày 1/1/12004) và áp dụng cho tất cả các pháp nhân, kể cả những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trước đây, mức thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25%).

Dưới đây là các mức thuế suất ưu đãi:

(i) Mức thuế suất 20% áp dụng cho 10 năm đầu tiên kể từ khi bắt đầu hoạt động sản xuất của những dự án thuộc các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư (bao gồm những dự án dịch vụ tại các khu công nghiệp), hoặc đầu tư vào những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
(ii) Mức thuế suất 15% áp dụng cho 12 năm đầu tiên kể từ khi bắt đầu hoạt động sản xuất của những dự án thuộc các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư (bao gồm những dự án dịch vụ ở các khu chế xuất và những dự án sản xuất ở các khu công nghiệp) và đầu tư vào những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hoặc đầu tư vào những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
(iii) Mức thuế suất 10% áp dụng cho 15 năm đầu tiên kể từ khi bắt đầu hoạt động sản xuất của những dự án thuộc các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư (bao gồm những dự án phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất) và đầu tư vào những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được áp cho phần giá trị gia tăng của hầu hết các loại hàng hoá và dịch vụ phát sinh trong suốt quá trình kể từ khi sản xuất, lưu thông đến tiêu thụ (một số loại hàng hoá dịch vụ chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt). Có 4 mức thuế suất thuế GTGT như sau:

(i) Mức thuế suất 0% áp dụng cho các loại hàng hoá xuất khẩu, tái bảo hiểm ở nước ngoài, các dịch vụ tín dụng ở nước ngoài, đầu tư tài chính ở nước ngoài, đầu tư cổ phiếu ở nước ngoài;

(ii) Mức thuế suất 5% áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ thiết yếu như nước, phân bón, thuốc trừ sâu, dược phẩm, thiết bị và dụng cụ giáo dục và đào tạo, đồ chơi trẻ em, các loại sách khoa học và nghệ thuật,các sản phẩm nông-lâm tự nhiên, thức ăn gia súc, dịch vụ ứng dụng khoa học và nông nghiệp, …;

(iii) Mức thuế suất chuẩn 10% áp dụng cho hầu hết các loại hàng hoá và dịch vụ như xăng dầu, than, quặng và các sản phẩm khai thác khác; điện kinh doanh; đồ điện tử, các sản phẩm điện máy; hoá mỹ phẩm; hàng dệt may, vải, sợi; đường, bánh kẹo và đồ uống không có cồn; thuỷ tinh, nhựa, cao su, vật liệu xây dựng; công trình xây dựng và lắp đặt, vận tải và bốc/dỡ hàng; các dịch vụ bưu chính viễn thông; cho thuê nhà xưởng, thiết bị và phương tiện vận chuyển; các dịch vụ tư vấn pháp luật; và những hàng hoá và dịch vụ xa xỉ như kinh doanh vàng, bạc và đá quý, khách sạn, du lịch, giải trí, tất cả các loại xổ số, các đại lý tầu thuyền, môi giới trước đây chịu mức thuế suất 20%.


Thuế tiêu thụ đặc biệt


Ngoài những mặt hàng chịu thuế GTGT, các loại hàng hoá, dịch vụ dưới đây phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với các mức thuế suất giao động từ 10 đến 80% (thấp hơn mức trước đây là từ 15 đến 100%), bao gồm: thuốc lá, bia (không kể bia hơi), các loại rượu, ô tô (dưới 24 chỗ), xăng dầu, điều hoà nhiệt độ (dưới 90000 BTU), thẻ chơi game, vàng mã, các đồ thờ cúng; kinh doanh câu lạc bộ khiêu vũ, massage, karaoke, sòng bạc, các dịch vụ chơi game bằng máy, kinh doanh xổ số, và kinh doanh sân gôn. Các hoạt động cá cược đua ngựa và đua mô tô không nằm trong danh sách các loại dịch vụ chịu thuế. Những loại hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT sẽ không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, và ngược lại.


Thuế lợi tức

Kể từ khi mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tăng từ 25% lên 28% như đã đề cập trên đây, những dự án có vốn đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không phải nộp thuế lợi tức kể từ ngày 1/1/2004 khi Luật sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực.

Thuế xuất/nhập khẩu

Việt Nam hiện đang điều chỉnh biểu thuế xuất và nhập khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu và thực hiện các cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu và bãi bỏ hàng rào phi thuế quan để phù hợp với hiệp định AFTA và các tổ chức thương mại quốc tế khác..

Thuế chuyển giao công nghệ

Tất cả các giao dịch chuyển giao công nghệ phải chịu thuế chuyển giao công nghệ, là loại thuế áp dụng cho các khoản doanh thu chịu thuế như được thoả thuận trong hợp đồng. Thay vì áp dụng ba mức thuế suất như trước đây, hiện tại chỉ có một mức thuế suất 10% áp dụng cho tất cả các trường hợp.

Thuế nhà thầu nước ngoài

Các nhà thầu nước ngoài thực hiện hoạt động sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam, không tuân theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài, trên cơ sở ký kết hợp đồng với các pháp nhân của Việt Nam, và các nhà thầu phụ cung cấp dịch vụ cho các nhà thầu chính tại Việt Nam, sẽ phải nộp các loại thuế và chịu các mức thuế suất tương tự như áp dụng đối với các doanh nghiệp trong nước. Đó là các loại thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất-nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, và các loại thuế khác theo quy định của luật pháp Việt Nam.

Các nhà thầu và nhà thầu phụ nước ngoài có thể lựa chọn một trong hai cách dưới đây để nộp thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp:

(i) Phương pháp thông thường

Phương pháp này áp dụng cho các đối tượng thực hiện theo hệ thống kế toán Việt Nam. Việc nộp thuế sẽ được thực hiện theo cách thức tương tự với các pháp nhân trong nước, theo các mức thuế suất thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp như đã trình bày trên đây.

(ii) Phương pháp kết hợp

Phương pháp này được áp dụng khi các nhà thầu hoặc nhà thầu phụ nước ngoài không sử dụng hệ thống kế toán Việt Nam. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá và nộp thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp, hai loại thuế này được hợp nhất thành một cơ sở theo doanh thu chịu thuế.

Các giá trị gia tăng giao động từ 10%, 25%, 30% đến 50% của doanh thu chịu thuế, tuỳ theo đó là hoạt động kinh doanh, sản xuất, xây dựng có hoặc không có nguồn hàng cung cấp. Thuế GTGT sẽ được tính bằng cách nhân các giá trị gia tăng trên đây với mức thuế suất tương ứng. Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp giao động từ 1%, 2%, 5% đến 10% của doanh thu chịu thuế, tuỳ theo đó là hoạt động kinh doanh, sản xuất, xây dựng; dịch vụ; cho vay; và chuyển giao công nghệ.


Thuế thu nhập cá nhân


Tất cả đối tượng người nước ngoài có thu nhập tại/từ Việt Nam, bất kể họ sống ở Việt Nam trong thời gian bao lâu, đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Đối với những người sống ở Việt Nam dưới 183 ngày sẽ phải nộp thuế với mức thuế suất là 25% (trước đây là 10%) tổng thu nhập. Đối với những người sống ở Việt Nam trên 183 ngày (thường gọi là người nước ngoài định cư trong nước) sẽ phải nộp theo mức thuế quan luỹ tiến, với mức thuế suất tối đa là 40% thu nhập hàng tháng.

Mức thu nhập chịu thuế tối thiểu được áp dụng khi tính thuế cho người nước ngoài định cư trong nước là 8 triệu VNĐ.

Thông tin trên trang này chỉ là thông tin chung và không mang tính tư vấn về các vấn đề tài chính, luật pháp hay thuế. Mặc dù ANZ tổng hợp những thông tin trên từ những nguồn mà chúng tôi cho là tin cậy, chúng tôi cũng không đảm bảo rằng những thông tin này là hoàn toàn chuẩn xác và mới nhất, vì vậy mà ANZ hay nhân viên của ANZ sẽ không chịu trách nhiệm cho những thiệt hại xảy ra liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới thông tin trên trang này. ANZ khuyên khách hàng tìm tới dịch vụ tư vấn độc lập trước khi đưa ra bất cứ quyết định nào hay tham gia vào bất cứ thương vụ nào.